Luật viên chức 2010 và những sửa đổi, bổ sung cần nắm rõ

Ngày: 22/07/2021
Ở kỳ họp Quốc hội thứ 8 khóa XIV ngày 25/11/2019 đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật viên chức, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/07/2020. Theo đó, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật viên chức 20210 với những điểm mới bao gồm:

Từ 01/7/2020 sửa đổi chế độ “biên chế suốt đời”

Chế độ “biên chế suốt đời” sẽ được chính thức bãi bỏ trong luật sửa đổi lần này đối với các đối tượng viên chức được tuyển dụng mới từ ngày 01/07/2020. Theo quy định Luật viên chức 2010, người trúng tuyển vào viên chức sẽ được ký hai hình thức hợp đồng làm việc như sau:
  • Hợp đồng có thời hạn: Hai bên tham gia xác định thời điểm, thời hạn chấm dứt hiệu lực của hợp đồng trong khoảng thời gian từ 12 - 36 tháng ngoại trừ cán bộ, công chức chuyển sang làm viên chức tại đơn vị sự nghiệp công lập.
  • Hợp đồng không có thời hạn: Hai bên tham gia không xác định thời điểm, thời hạn chấm dứt hiệu lực của hợp đồng, áp dụng với cá nhân đã hoàn thành xong hợp đồng xác định thời hạn và công chức, cán bộ chuyển thành viên chức.
Tính từ thời điểm Luật sửa đổi có hiệu lực, các viên chức trúng tuyển mới sẽ phải ký hợp đồng làm việc có thời hạn với khoảng thời gian từ đủ 12 - 60 tháng. Căn cứ khoản 2, Điều 2 sửa đổi, bổ sung Điều 25 Luật viên chức thì đối với hợp đồng không xác định thời hạn chỉ còn được áp dụng với các trường hợp sau:
  • Viên chức được tuyển vào trước thời điểm 01/7/2020 và đủ điều kiện theo quy định.
  • Cán bộ và công chức chuyển sang làm viên chức.
  • Cá nhân được tuyển vào làm viên chức công tác ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn.
Đối với những viên chức được tuyển vào trước thời điểm 01/7/2020 tuy nhiên chưa ký hợp đồng làm việc không xác định thời hạn sẽ được giải quyết theo quy định tại khoản 10 Điều 2 Luật sửa đổi, bổ sung Luật viên chức năm 2019.
luật viên chức 2010
Theo quy định này, những trường hợp đó sẽ được tiếp tục thực hiện hợp đồng như đã ký kết. Sau khi hợp đồng hết thời hạn thì được ký tiếp hợp đồng không xác định thời hạn nếu có đủ điều kiện theo quy định.
Như vậy, với những viên chức được tuyển trước thời điểm 01/7/2020 nếu có đủ điều kiện, tiêu chuẩn thì vẫn được ký hợp đồng làm việc không xác định thời hạn (chế độ “biên chế suốt đời”).
Với viên chức được tuyển mới từ thời điểm 01/7/2020 trở đi thì sau khi hết hạn hợp đồng xác định thời hạn sẽ phải ký tiếp hợp đồng xác định thời hạn mà không được chuyển sang hợp đồng không xác định thời hạn nếu đơn vị sự nghiệp công lập vẫn còn nhu cầu sử dụng viên chức.

Thời hạn hợp đồng làm việc của viên chức được kéo dài lên 60 tháng

Thời hạn thực hiện hợp đồng sẽ bị kéo dài từ 36 tháng lên 60 tháng quy định tại khoản 2 Điều 2 Luật sửa đổi, bổ sung Luật viên chức.
Hợp đồng xác định thời hạn được quy định là loại hợp đồng mà hai bên tham gia xác định thời điểm, thời hạn chấm dứt hiệu lực của hợp đồng, áp dụng với những viên chức mới được tuyển dụng. Theo quy định của Luật viên chức 2010, thời hạn thực hiện hợp đồng là từ đủ 12 - 36 tháng thì theo điểm mới từ thời điểm 01/7/2020 trở đi, hợp đồng này sẽ có thời hạn từ đủ 12 - 60 tháng.
Việc kéo dài thời hạn này nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho viên chức trong quá trình thích nghi, làm quen với vị trí công việc được tuyển dụng. Nếu từ chối đơn vị sự nghiệp công lập thì phải nêu rõ lý do vì sao bị chấm dứt bằng văn bản.

Quy định đơn phương chấm dứt hợp đồng làm việc

Có 5 trường hợp được quy định tại Điều 29 Luật viên chức 2010 về việc đơn vị sự nghiệp công lập được phép đơn phương chấm dứt hợp đồng làm việc với viên chức:
  • Viên chức có liên tiếp 2 năm bị đánh giá ở mức độ không hoàn thành nhiệm vụ.
  • Viên chức bị buộc thôi việc.
  • Người bị ốm đau đã điều trị liên tục 12 tháng (làm việc theo chế độ hợp đồng không xác định thời hạn), bị ốm đau đã điều trị liên tục 6 tháng mà chưa hồi phục khả năng làm việc (làm việc theo chế độ hợp đồng xác định thời hạn).
  • Do hỏa hoạn, thiên tai hoặc lý do bất khả kháng buộc đơn vị sự nghiệp công lập phải hạn chế quy mô, làm cho vị trí công việc của viên chức không còn.
  • Đơn vị sự nghiệp công lập không còn được hoạt động theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền.
Điểm mới của Luật viên chức 2010 sau khi được sửa đổi, bổ sung là đã thêm một trường hợp mà đơn vị sự nghiệp công lập có thể đơn phương chấm dứt hợp đồng với viên chức, đó là nếu sau thời gian tập sự mà viên chức không đạt yêu cầu.
luật viên chức 2010
Khi được tuyển dụng, sẽ có khoảng thời gian tập sự từ 3 - 12 tháng để viên chức làm quen và thích nghi với vị trí được tuyển dụng. Sau khoảng thời gian này, nếu không đạt yêu cầu thì có thể bị đơn vị sự nghiệp công lập đơn phương chấm dứt hợp đồng làm việc.

Về việc giải quyết trường hợp khi hợp đồng làm việc xác định thời hạn hết hạn

Việc này được quy định tại khoản 2 Điều 18 Luật viên chức 2010, người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập trước khi hết hạn hợp đồng 60 ngày sẽ căn cứ vào nhu cầu, xem xét, đánh giá năng lực hoàn thành nhiệm vụ của viên chức để quyết định tiếp tục hay chấm dứt hợp đồng làm việc với viên chức đó.
Nhưng quy định này chưa nói rõ cách xử lý đối với từng trường hợp. Do vậy, để khắc phục, Luật sửa đổi, bổ sung đã quy định như sau:
  • Nếu viên chức có đủ điều kiện theo quy định, đơn vị sự nghiệp công lập còn nhu cầu sử dụng thì người đứng đầu đơn vị phải ký tiếp hợp đồng làm việc với viên chức.
  • Phải nêu rõ lý do bằng văn bản nếu không ký tiếp.

Quy định thời hạn và thời hiệu xử lý kỷ luật

Khi đang bị truy tố, điều tra, xét xử hoặc đang trong thời hạn xử lý kỷ luật thì viên chức nghỉ hưu vẫn được xem xét bổ nhiệm lại hoặc bố trí vào vị trí thấp hơn trong trường hợp bị kỷ luật.
Vấn đề này được quy định tại Điều 56 Luật viên chức 2010. Theo đó, viên chức bị kỷ luật từ khiển trách đến cách chức thì không thực hiện việc quy hoạch, bổ nhiệm, đào tạo, bồi dưỡng trong thời hạn 12 tháng tính từ ngày quyết định kỷ luật có hiệu lực. Ngoài ra, trong thời hạn bị điều tra, xét xử, truy tố, bị xử lý kỷ luật thì không được giải quyết chế độ nghỉ hưu.
Mặc dù vậy, điểm mới trong Luật sửa đổi, bổ sung đã nới lỏng hơn về vấn đề này. Theo đó:
Tại khoản 8 Điều 2 Luật sửa đổi, bổ sung khoản 3 Điều 56 Luật viên chức 2010, viên chức đang bị truy tố, điều tra, xét xử, bị xử lý kỷ luật thì không được bồi dưỡng, đào tạo, biệt phái, bổ nhiệm hoặc thôi việc. Điều đó có nghĩa là vẫn sẽ giải quyết nghỉ hưu cho viên chức khi đang trong thời hạn xử lý kỷ luật.

Thay đổi về trường hợp áp dụng thời hạn, thời hiệu xử lý kỷ luật

Thời hiệu xử lý kỷ luật là thời hạn mà khi hết thời hạn đó người có hành vi vi phạm không bị xử lý kỷ luật. Theo đó, sắp tới việc xử lý kỷ luật viên chức sẽ được quy định rõ theo mức độ vi phạm kể từ thời điểm có hành vi vi phạm như hiện nay:
  • Đối với hành vi ít nghiêm trọng đến mức phải kỷ luật bằng hình thức khiển trách là 02 năm.
  • Đối với hành vi không thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản này là 05 năm.
  • Đối với hành vi đặc biệt nghiêm trọng mà không thuộc những trường hợp không áp dụng thời hiệu là:
  • Viên chức là đảng viên có hành vi vi phạm đến mức chịu hình thức kỷ luật khai trừ.
  • Viên chức có hành vi vi phạm quy định về công tác bảo vệ chính trị nội bộ.
  • Viên chức có hành vi xâm phạm đến lợi ích quốc gia trong lĩnh vực đối ngoại, quốc phòng, an ninh.
  • Viên chức sử dụng chứng chỉ, văn bằng, giấy xác nhận, chứng nhận giả hoặc không hợp pháp.
Đối với viên chức, thời hạn xử lý kỷ luật là khoảng thời gian từ khi phát hiện hành vi vi phạm đến khi có quyết định xử lý kỷ luật viên chức của cấp có thẩm quyền.
Theo quy định mới, thời hạn xử lý kỷ luật viên chức kéo dài thêm 30 ngày (quy định tại khoản 3 Điều 53): Không quá 90 ngày đối với thời hạn xử lý kỷ luật (quy định Luật viên chức 2010 là 02 tháng), nếu hành vi vi phạm có tình tiết phức tạp cần có thời gian để kiểm tra, thanh tra nhằm làm rõ và xác minh thêm thì thời hạn xử lý kỷ luật được kéo dài nhưng không vượt quá 150 ngày (quy định Luật viên chức 2010 là 04 tháng).
luật viên chức 2010

Quy định nội dung đánh giá viên chức

Nội dung đánh giá viên chức cũng có những điểm mới trong lần sửa đổi, bổ sung này như sau:
Điều 41 Luật viên chức 2010 nêu rõ, việc đánh giá viên chức chỉ được xem xét ở kết quả hoàn thành nhiệm vụ hoặc công việc theo hợp đồng làm việc đã ký kết, thái độ phục vụ nhân dân... thì điểm mới lần này quy định rằng: Việc đánh giá viên chức về kết quả thực hiện nhiệm vụ phải gắn với vị trí công việc, thể hiện thông qua công việc, sản phẩm rõ ràng. Bên cạnh đó, mỗi ngành, mỗi lĩnh vực lại có đặc thù riêng nên sẽ áp dụng một số tiêu chuẩn với nội dung không giống nhau khi đánh giá kết quả hoàn thành nhiệm vụ của viên chức.
Chính vì thế, với điểm mới này, việc đánh giá viên chức sẽ phải căn cứ vào kết quả thực hiện nhiệm vụ gắn với vị trí công việc và thể hiện thông qua công việc, sản phẩm rõ ràng, tạo sự công bằng, thuận lợi hơn trong việc thực hiện nhiệm vụ phân loại, đánh giá kết quả hoàn thành nhiệm vụ của viên chức.
Trên đây là một số điểm mới, quy định mới của Luật viên chức 2010.