Một số câu hỏi thi kiểm định chất lượng đầu vào công chức Nhật Bản và định hướng cho việc tham khảo ở Việt Nam


Phần mềm thi trắc nghiệm kiểm định chất lượng đầu vào Công chức mới nhất. Xem tại đây
 
       Cũng như mục tiêu cải cách hành chính ở Việt Nam, Nhật Bản rất chú trọng tới việc cải cách chế độ công chức, công vụ. Đối với công tác cán bộ,  Nhật Bản đã tuyển chọn được rất nhiều nhân tài có năng lực ở hiện tại cũng như năng lực thích ứng trong tương lai. Bà Kikuchi Atsuko, Chủ tịch Hiệp hội phát triển nguồn nhân lực khu vực công Nhật Bản cho hay, nước này đã phải nhiều lần thay đổi chính sách thi tuyển của mình cho phù hợp với tình hình thực tế để có nguồn nhân lực cho lĩnh vực hành chính công tốt.
       Kỳ thi tuyển dụng công chức quốc gia do Cơ quan Nhân sự quốc gia quy định, hàng năm đứng ra tổ chức kỳ thi chung, những người dự tuyển thường là sinh viên mới tốt nghiệp. Thí sinh tham dự kỳ thi tuyển công chức quốc gia tập trung phải trải qua 02 phần thi. Ở phần thi thứ nhất, thí sinh phải làm một bài thi trắc nghiệm, một bài thi luận; ở phần thi thứ hai, thí sinh phải vượt qua một cuộc phỏng vấn trực tiếp. Kỳ thi chung này được tổ chức trong một ngày tại 09 địa điểm khác nhau nhằm đảm bảo sự công bằng cho tất cả các thí sinh. Nếu thí sinh nào qua được 02 phần thi này thì Cơ quan Nhân sự quốc gia sẽ gửi danh sách đến các bộ, ngành cần tuyển dụng để các thí sinh tham gia phỏng vấn tại các Bộ. Từng bộ sẽ tiến hành phỏng vấn và có thẩm quyền quyết định việc tuyển dụng nhân sự của mình.
       Việc tuyển dụng 2 cấp như vậy giúp Nhật Bản sàng lọc các ứng cử viên ngay từ đầu. Thực tế cho thấy, mặc dù số lượng ứng cử viên tham dự các kỳ thi công chức rất lớn nhưng qua sàng lọc, chỉ có một số ít người có đủ năng lực để tham gia công vụ và trong số đó cũng chỉ có rất ít người được tuyển dụng. Chẳng hạn, đối với chuyên ngành Luật, năm 2011 có 9833 ứng cử viên tham gia thi tuyển nhưng chỉ có 458 người thi đỗ kỳ thi do Cơ quan Nhân sự quốc gia tổ chức và trong số đó chỉ có 178 người được tuyển dụng; hay với các vị trí hành chính có 6738 ứng cử viên nhưng chỉ có 39 người thi đỗ và chỉ tuyển dụng có 5 người.
       1. Một số nội dung về bài thi trắc nghiệm tuyển dụng công chức ở Nhật Bản
       Chuyên gia Mori Mutsuya, Trưởng đại diện Văn phòng JICA tại Việt Nam cho biết, để có được nguồn nhân lực ưu tú, việc thi tuyển tập trung là rất quan trọng và công tác đào tạo tại các trường đại học, cao đẳng giữ một vai trò chủ chốt. Vào tháng 5, thí sinh đến địa điểm thi để tham gia bài thi trắc nghiệm. Đề thi trắc nghiệm là để tìm ra những người có năng lực, trí tuệ và khả năng thích ứng công việc ở hiện tại cũng như trong tương lai, vì thế nên đề thi chỉ liên quan đến các kiến thức thông thường, đó là những kiến thức đã được học ở trong trường phổ thông và đại học. Thời gian cho mỗi câu hỏi trắc nghiệm là từ 02 phút đến 02 phút 30 giây. Mỗi bài thi trắc nghiệm gồm 02 lĩnh vực câu hỏi: lĩnh vực kiến thức và lĩnh vực trí tuệ.
1.1. Một số câu hỏi chia theo lĩnh vực
Lĩnh vực đặt câu hỏi Năng lực hướng đến
Lý luận Tư duy mang tính lý luận dựa trên sự lý giải về phương pháp luận tam đoạn cơ bản
Suy luận phán đoán Tư duy dựa trên lý giải phân tiwch điều kiện thiết lập được hiển thị bằng ngôn ngữ
Suy luận số Tu duy dựa trên lý giải, phân tích tính chất và điều kiện thiết lập số
Hình dạng Tư duy dựa trên tri giác, lý giải hình dạng mặt phẳng hoặc lập thể
Giải thích tài liệu Phân tích dựa trên lý giải số được hiển thị trong bảng hoặc hình
Lý giải câu văn Lý giải câu văn bằng ngôn ngữ là ngôn ngữ mẹ đẻ
1.2. Ví dụ câu hỏi được cơ cấu theo từng lĩnh vực
 
Số lượng câu hỏi ví dụ
 
Lý luận Suy luận phán đoán Suy luận số Hình dạng Giải thích tài liệu Lý giải câu văn
A B C D E F
12 1 3 3 2 2 1

A: Lý luận
[A-1]. Điều nào sau đây có thể nói là chính xác?
o   A là B.
o   C là A.
o   Những cái không phải là C thì không phải là D.
(1). Cái gì không phải là A thì không phải là B.
(2). C là tất D và D là A.
(3). D là A và đồng thời là B
(4). A là tất cả C, đồng thời là B.
Đáp án đúng là (3).
B: Suy luận phán đoán
[B-1]. Có 08 người từ A-H, chia thành 04 nhóm 02 người, 01 người trong mỗi nhóm sẽ lặn xuống biển thời gian lặn sẽ do ngjười còn lại đo. Khi biết được điều sau đây thì có thể nói đâu là điều chính xác?
o   A có thời gian lặn dài nhất và G có thời gian lặn dài thứ 2.
o   B cặp với F.
o   C và H không lặn.
o   Thời gian lặn mà D đo là ngắn nhất.
(1). A cặp với C.
(2). Thời gian lặn của B dài thứ 3.
(3). D cặp với E.
(4). Thời gian lặn của F ngắn hơn thời gian lặn của G.
Đáp án đúng là (3).
[B-2]. Có 06 người A, B, C, D, E, F chạy đua 100m. Điều nào là chính xác nếu bạn biết những điều sau đây về kết quả? Ngoài ra, không ai về đích cùng lúc.
o   Người về đích là A, B, C.
o   Người về đích ngay sau D xếp hạng cao hơn A và xếp hạng thấp hơn B.
o   Người về đích sau F là E.
(1). D là người về đích sau B.
(2). F là người về đích sau B.
(3). B là người về đích sau C.
(4). D là người về đích sau C.
Đáp án đúng là (4).
[B-3]. 04 học sinh A, B, C, D đã làm bài kiểm tra tiếng Anh, toán và vật lý (tất cả đều đạt 100 điểm). Điều nào là chính xác khi bạn biết điều sau đây về kết quả bài kiểm tra của 04 người này.
o   Điểm tiếng Anh của D và điểm vật lý của A bằng nhau.
o   Điểm vật lý của D và điểm tiếng Anh của B bằng nhau.
o   Điểm toán của D và điểm tiếng Anh của C bằng nhau.
o   Cả 04 học sinh (A, B, C, D) đều đạt điểm cao nhất môn toán, tiếp theo là môn vật lý và tiếng Anh.
(1). Điểm toán của A thấp hơn điểm toán của D.
(2). Điểm vật lý của B thấp hơn điểm tiếng Anh của A.
(3). Điểm tiếng Anh của C là điểm cao thứ 2 trong số điểm tiếng Anh của 04 người.
(4). Điểm tiếng Anh của D là điểm thấp thứ 2 trong số điểm tiếng Anh của 04 người.
Đáp án đúng là (4).
C: Suy luận số
[C-1]. Chiếc xe ô tô chạy 02 vòng với tốc độ trung bình 40 km/h trrên một quãng đường vòng tròn là 10km. Nếu xe chạy vòng đầu tiên với tốc độ trung bình 30 km/h thì tốc độ trung bình ở vòng thứ hai là bao nhiêu?
(1). 50km
(2). 55km
(3). 60km
(4). 65km
Đáp án đúng là (3).
[C-2]. Dung dịch muối có nồng độ 15% được trộn với dung dich muối B có nồng độ không xác định theo tỷ lệ 2:1 thì thu được dung dịch muối C có nồng độ 19%. Nồng độ của dung dịch muối B là bao nhiêu?
(1). 25%
(2). 26%
(3). 27%
(4). 28%
Đáp án đúng là (3).
[C-3]. 03 người A, B và C đi vòng quanh ao tròn theo cùng một hướng với tốc độ không đổi. Sau khi 03 người rời khỏi điểm xuất phát cùng một lúc thì A hoàn thành 01 vòng trong 80 giây, tiếp đến là B cùng hoàn thành 01 vòng. C khởi hành muộn hơn B và hoàn thành 01 vòng sau 480 giây. Sau khi 03 người xuất phát và đến khi A hoàn thành 01 vòng, có lúc hình tam giác được tạo bằng cách nối các vị trí của A, B và C thành một tam giác đều. Sau bao nhiêu giây sau khi 03 người xuất phát thì điều đó xuất hiện?
(1). Sau 56 giây
(2). Sau 60 giây
(3). Sau 64 giây
(4). Sau 68 giây
Đáp án đúng là (3).
D: Hình vẽ
[D-1]. Có 03 vòng tròn có bán kính 02 cm, 02 trong số đó tiếp xúc ngoài với nhau như trong hình. Vẽ 01 tam giác vuông bằng cách kết nối trung tâm của các vòng tròn này. Lúc đó, diện tích của vùng gạch là bao nhiêu? Lưu ý rằng π thể hiện cho tỷ số chu vi đường tròn và đường kính.
(1). 8/3    πcm2
(2). 3       πcm2
(3). 7/2    πcm2
(4). 4       πcm2
Đáp án đúng là (4).
 
[D-2]. Một khối lập phương có mũi tên và đường thẳng được vẽ trên 02 mặt như trong hình. Đâu là hình vẽ triển khai hợp lý nhất của khối vuông này? Mũi tên và đường thẳng được vẽ trên bề mặt trước và không thể nhìn thấy từ phía sau.
Đáp án đúng là (1).
E: Giải thích tài liệu
[E-1]. Bảng biểu thể hiện diện tích công viên của các thành phố lớn, tỷ lệ diện tích công viên so với khu vực thành phố và diện tích công viên tính trên mỗi đầu người ở một quốc gia. Điều nào sau đây là hợp lý nhất?
Tên thành phố Diện tích công viên (ha) Tỷ lệ diện tích công viên so với diện tích thành phố (%) Diện tích công viên tính trên mỗi đầu người (m2)
A 1.541 2,60 1,86
B 877 2,67 4,22
C 308 0,52 2,18
D 644 3,03 2,44
E 648 1,36 6,10
(1). Thành phố D có diện tích đô thị lớn nhất.
(2). Thành phố E có dân số đông nhất.
(3). Diện tích thành phố của A và C gần như giống nhau.
(4). Thành phố C có dân số đông hơn thành phố B.
Đáp án đúng là (3).
[E-2]. Biểu đồ chia dân số của một thành phố trong khoảng thời gian từ 1960 đến 2030 thành 03 phần, gồm tỷ lệ dân số cao tuổi (từ 65 tuổi trở ên), dân số trong độ tuổi lao động (từ 15 tuổi đến dưới 64 tuổi) và dân số trẻ (dưới 15 tuổi), từ đó cho thấy tỷ lệ phần trăm của dân số già và dân số ở độ tuổi lao động trên tổng dân số giai đoạn (05 năm). Điều nào nói đến sau đây là hợp lý nhất?
(Ghi chú: Năm 2010 là giá trị thực tế, từ năm 2015 trở đi là giá trị giả định)
 
(1). Trong khoảng thời gian này, dân số trong độ tuổi lao động nhiều nhất là vào năm 1995.
(2). Trong khoảng thời gian này, dân số trẻ nhất là vào năm 1985.
(3). Năm 2015, trên tổng dân số thì cứ 05 người lại có 01 người thuộc nhóm dân số cao tuổi.
(4). Dân số cao tuổi sẽ nhiều hơn khoảng 04 lần vào năm 2025 do với năm 1965.
Đáp án đúng là (3).
[F-1]. Đâu là điều hợp lý để là điều chính xác nhất với đoạn văn dưới đây.
Con người thường khó phản ứng khi đột nhiên bị yêu cầu suy nghĩ điều gì đó. Tôi đang phụ trách một khóa đào tạo giáo viên tại một trường đại học và dạy các sinh viên đại học muốn trở thành giáo viên ở trường học, nhưng tôi luôn thấy rằng nếu đột nhiên bị bảo là “Hãy suy nghĩ xem!” thì thường suy nghĩ của họ sẽ bị phân tán vào điều gì đó và họ chẳng nghĩ ra được gì cả. Đặc biệt là trong trường hợp sinh viên năm nhất, dù họ cố gắng suy nghĩ thế nào đi nữa nhưng thực tế khi tôi hỏi “Hãy thử nói suy nghĩ của bạn!”, thì không ít học sinh trả lời là “Em chưa nghĩ ra gì cả”, “Em chưa sắp xếp được suy nghĩ”. Khi tôi nghĩ là tại sao lại như vậy thì tôi đi đến kết luận rằng họ không tiếp thu được phương pháp tư duy như một “kỹ năng” của bản thân. Chúng ta học các môn học khác nhau trong giáo dục nhà trường ở trường tiểu học và tiếp nhận nhiều kiến thức ở đó. Tuy nhiên, cho dù ta có học toán thì cũng không tiếp thu được (cách tư duy về sự vật), mang tính toán học vốn là nền tảng của toán học đủ để có thể áp dụng cho những thứ khác. Vì lý do đó, ngay cả khi bị yêu cầu là “Hãy suy nghĩ xem” thì ta cũng không biết làm thế nào và không thể làm gì được.
(1). Nếu đột nhiên bị yêu cầu là “Hãy suy nghĩ xem” thì ta khó đáp ứng được yêu cầu đó vì không học đầy đủ và không có đủ kiến thức khi được đào tạo trong trường.
(2). Trong một số bộ môn, rất khó để trả lời khi được yêu cầu “Hãy suy nghĩ đi” trừ khi ta có được <ý tưởng> là cốt lõi của bộ môn đó, đủ để có thể áp dụng nó vào những thứ khác.
(3). Sau khi có được một vài suy nghĩ trong đầu thì có thể kết hợp các suy nghĩ đó lại và nêu ra nó như một ý tưởng mới.
(4). Có thể có được nhiều kiến thức bằng cách nâng cao <năng lực tư duy> và nắm băt <phương pháp tư duy> của từng ngành học.
Đáp án đúng là (2).
       2. Một số gợi mở đối với Việt Nam trong việc áp dụng thi kiểm định chất lượng đầu vào công chức
       Ngày 21/02/2023 Chính phủ đã ban hành Nghị đinh số 06/2023/NĐ-CP  quy định về kiểm định chất lượng đầu vào công chức. Theo đó, việc kiểm định chất lượng đầu vào công chức được tổ chức định kỳ 02 lần vào tháng 7 và tháng 11 hàng năm. Bộ Nội vụ là cơ quan có thẩm quyền kiểm định chất lượng đầu vào công chức.
       Việc kiểm định chất lượng đầu vào công chức được thực hiện bằng hình thức thi trắc nghiệm trên máy vi tính.
       Nội dung kiểm định bao gồm: Đánh giá năng lực tư duy, năng lực ứng dụng kiến thức vào thực tiễn; hiểu biết chung, cơ bản của thí sinh về hệ thống chính trị, tổ chức bộ máy của Đảng, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội, cơ quan nhà nước; quản lý hành chính nhà nước; quyền, nghĩa vụ của công chức, đạo đức công vụ; kiến thức về xã hội, văn hóa, lịch sử.
       Về thời gian, số lượng câu hỏi kiểm định được quy định như sau:
       - Kiểm định chất lượng đầu vào đối với người tham gia thi tuyển vào vị trí việc làm có yêu cầu trình độ đại học trở lên: 120 phút, số lượng câu hỏi 100 câu.
       - Kiểm định chất lượng đầu vào đối với người tham gia thi tuyển vào vị trí việc làm có yêu cầu trình độ trung cấp, cao đẳng: 100 phút, số lượng câu hỏi 80 câu.
       Kết quả kiểm định được xác định theo số câu trả lời đúng trong bài thi. Thí sinh trả lời đúng từ 50% số câu hỏi trở lên thì được xác định là đạt yêu cầu kiểm định chất lượng đầu vào công chức. Kết quả kiểm định chất lượng đầu vào công chức có giá trị sử dụng trong thời hạn 24 tháng kể từ ngày có quyết định phê duyệt của Bộ Nội vụ.
       Như vậy, điểm mới về nội dung kiểm định so với thi trắc nghiệm vòng 1 hiện nay là “đánh giá năng lực tư duy, năng lực ứng dụng kiến thức vào thực tiễn… kiến thức về xã hội, văn hóa, lịch sử”. Bên cạnh đó, số lượng câu hỏi cho mỗi bài thi cũng nhiều hơn (quy định hiện hành là 60 câu) và thời gian cho mỗi câu cũng kéo dài hơn (trung bình là 1,2 phút/câu).
       Có thể nói, một trong những vấn đề có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng và hiệu quả của kiểm định chất lượng đầu vào công chức là nội dung kiểm định. Tuy nhiên, để xây dựng được các câu hỏi “đánh giá năng lực tư duy, năng lực ứng dụng kiến thức vào thực tiễn” phù hợp với các ứng viên tuyển vào công chức là vấn đề rất khó và phức tạp. Do đó, trong thời gian tới, cần quan tâm vào một số vấn đề như sau:
       - Đầu tư kinh phí và thu hút các chuyên gia, nhà quản lý tham gia xây dựng ngân hàng câu hỏi kiểm định, thường xuyên bổ sung, cập nhật những câu hỏi mới sau những kỳ kiểm định. Mặt khác cần có những bước thử nghiệm (tổ chức kiểm định thử đối với một số đối tượng tự nguyện phù hợp) trước khi áp dụng vào kiểm định chính thức.
       - Số lượng câu hỏi ở mỗi bài thi kiểm định đối với người tham gia thi tuyển vào vị trí việc làm có yêu cầu trình độ đại học trở lên nên được kết cấu như sau: 70 câu hỏi ở dạng đề kiến thức chung vẫn áp dụng từ trước theo quy định của Nghị định số 138/2020/NĐ-CP, gồm những nội dung về hiểu biết chung, cơ bản của thí sinh về hệ thống chính trị, tổ chức bộ máy của Đảng, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội, cơ quan nhà nước; quản lý hành chính nhà nước; quyền, nghĩa vụ của công chức, đạo đức công vụ; 20 câu hỏi về đánh giá năng lực tư duy, năng lực ứng dụng kiến thức vào thực tiễn; 10 câu hỏi về kiến thức về xã hội, văn hóa, lịch sử. Tương tự áp dụng đối với người tham gia thi tuyển vào vị trí việc làm có yêu cầu trình độ trung cấp, cao đẳng tương ứng là 60, 10, 10.
       - Quá trình xây dựng câu hỏi thi được nêu ra trước đối với những người được mời tham gia ra đề để đảm bảo công bằng với thí sinh: không đánh giá khả năng nhớ đơn giản của thí sinh; tránh những câu hỏi hoặc lựa chọn quá phức tạp; tránh ra đề thi, câu hỏi liên quan tới nội dung nói về các khu vực, địa phương đặc biệt như là các câu hỏi liên quan tới địa lý, hoặc những nội dung chỉ được giảng dạy ở trường đại học này mà không có ở các trường đại học khác khác; đề thi phải dùng từ ngữ phổ thông để ai cũng hiểu được ý nghĩa; thuật ngữ chuyên môn phải được dùng rộng rãi; nội dung của câu hỏi này không được là đáp án của câu hỏi kia; tránh tình trạng nếu làm được câu hỏi này thì mới làm được câu hỏi kia; nội dung câu hỏi phải rõ ràng, dễ hiểu; ...
       - Ứng dụng công nghệ cao (máy phá sóng, rà soát kim loại, camera an ninh…) trong cả quá trình bảo quản ngân hàng đề cũng như quá trình thi kiểm định, tránh tình trạng gian lận, làm sai lệch kết quả thi.
       - Có sự cập nhật, thay đổi số lượng câu hỏi nhất định sau mỗi ca thi, nhằm tránh tình trạng thiếu công bằng do lợi thế về mặt thông tin giữa ca thi trước với ca thi sau, giữa đợt thi ở vùng này với đợt thi ở vùng kia trong cùng một kỳ kiểm định. Ngoài ra, cần đảm bảo lượng câu hỏi đủ lớn trong ngân hàng tương ứng với lượng thí sinh ở mỗi kỳ kiểm định nhằm đảm bảo kết quả đánh giá được khách quan, chính xác.
       - Bên cạnh việc tổ chức tốt khâu kiểm định chất lượng đầu vào công chức, cần tăng cường hơn nữa công tác kiểm tra, giám sát cũng như nêu cao trách nhiệm người đứng đầu ở mỗi cơ quan có thẩm quyền tuyển dụng tại các bộ, ngành và địa phương trong tuyển dụng công chức. Có như vậy mới góp phần nâng cao chất lượng tuyển dụng công chức, góp phần xây dựng đội ngũ công chức thực sự ngang tầm nhiệm vụ, đáp ứng mục tiêu hiện thực hóa xây dựng một nước Việt Nam phồn thịnh, phát triển đúng như tinh thần Đại hội XIII của Đảng đã xác định.
-----
Tài liệu tham khảo:
1. “Quy trình tổ chức thi tuyển công chức của Nhật Bản”- ThS. Phạm Huyền Trang,  Viện Khoa học tổ chức nhà nước, Bộ Nội vụ- Tạp chí Tổ chức nhà nước, tháng 11/2015.
2. Tài liệu của chuyên gia Cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA).